Cánh đồng tuổi thơ hiện lên từ trang sách
Tập thơ “Gọi đồng” của nhà thơ Ngô Đức Hành mở ra trước mắt người đọc một cánh đồng làng quen thuộc, với con đường trăng dịu, nơi tuổi thơ gắn với những buổi thả câu, chăn trâu, thả diều. Hình ảnh cánh đồng không chỉ là không gian sinh hoạt thường ngày mà trở thành ký ức sâu đậm, nơi đứa trẻ năm xưa lớn lên cùng lời ru của mẹ, cùng những chiều quê mênh mang cánh cò. Khi trưởng thành trở về, cái nhìn đổi khác: cánh đồng trong cảm nhận dường như “hẹp lại”, nhưng chính sự “hẹp lại” đó lại làm nỗi nhớ dày hơn, nỗi lo sợ mất dấu con đường xưa cũng rõ nét hơn.

Ảnh internet
Tiếng “gọi đồng” mà tập thơ gợi lên được ví như một giai điệu buồn, mang đậm hoài niệm. Trong không gian ấy, mùi thơm của đồng chiêm, hình ảnh những đám mây như mang hình dấu hỏi trở thành điểm tựa để nhà thơ gửi gắm những câu hỏi về tuổi thơ, về cha mẹ, về những điều đã qua mà vẫn chưa nguôi day dứt. Những đám mây tuổi nhỏ, những tầng trời ký ức ấy luôn phảng phất, bay về trong tâm tưởng, làm nên sắc thái riêng cho tập thơ.

Ảnh internet
Miền Nghèn – miền Trung khắc nghiệt nhưng đậm nghĩa tình
“Gọi đồng” gắn với vùng quê Nghèn và rộng hơn là dải đất miền Trung, nơi gió Lào bỏng rát mùa hè, bão lũ quần quật mùa mưa. Thiên nhiên khắc nghiệt, đất đai cằn cỗi nhưng chính hoàn cảnh ấy lại bồi đắp nên tầng sâu nghĩa tình trong đời sống con người. Trong thơ Ngô Đức Hành, miền Nghèn hiện lên với những con đường làng như bao làng quê khác, nhưng ẩn dưới đó là lớp lớp kỷ niệm của một thời trai trẻ, là nơi để dù đi xa đến đâu người con vẫn luôn muốn quay về.
Tập thơ khắc họa rõ ý niệm “rễ” – rễ đời người cắm chặt xuống đất quê, bám vào mạch nguồn không tuổi. Hình ảnh ấy cho thấy tình cảm gắn bó bền bỉ với quê nhà, với con sông, bờ ruộng, với cả những cơn lũ, những mùa hạn, tất cả đều trở thành một phần không thể tách rời trong tâm thức nhà thơ.
Nỗi nhớ cha mẹ trong mồ hôi đồng áng
Trong nhiều bài thơ, hình ảnh cha mẹ hiện lên từ ruộng đồng, từ lưng áo thấm mồ hôi, từ nếp nhà nghèo mà ấm. Những câu thơ về người cha quanh năm lấm đất, người mẹ gắn đời mình với lúa, với ruộng, với nỗi lo cơm áo đã làm đậm thêm gam màu hiện thực trong tập thơ, đồng thời tôn lên sự nhẫn nại, hy sinh của thế hệ đi trước. Những câu chữ về mùa đông se sắt, mùa hè nắng đổ, về nụ cười chắt chiu giữa nhọc nhằn cho thấy nhà thơ nhìn quê không qua lớp kính lãng mạn, mà qua những trải nghiệm chân thực của một người con đi xa mà luôn nặng nợ với nơi mình sinh ra.
Không chỉ dừng lại ở hình ảnh đồng áng, cơ cực, “Gọi đồng” còn nhắc đến những bữa cơm đậm vị mồ hôi, những ngày Tết trở về trong nỗi nhớ cha mẹ. Cảm xúc buốt nhói, những câu thơ như tiếng thở dài trước phận người lam lũ nhưng bền bỉ, tạo nên chiều sâu xúc cảm cho toàn bộ tập sách.
Dấu ấn quê nhà trong hành trình của người làm báo – nhà thơ
Ngô Đức Hành vốn là người làm báo, đi dọc nhiều vùng đất, tiếp xúc với không ít phận đời, nỗi lo toan, niềm vui nỗi buồn đan xen. Thế nhưng, trong những chuyến đi đó, ký ức về mẹ, về mái nhà quê, về con đường gió lùa và bờ đê cỏ mật vẫn trở đi trở lại. Trong thơ, bóng dáng người mẹ hiện lên giữa gió lạnh, với tà áo nâu, với những con đường làng hun hút, nhắc nhớ một tuổi thơ vừa khắc nghiệt vừa trìu mến.

Ảnh internet
Qua tám tập thơ đã xuất bản, bóng dáng quê hương miền Trung luôn phảng phất, như một sợi chỉ xuyên suốt. “Gọi đồng” tiếp tục mạch ấy, nhưng dày dặn hơn về chiều kích ký ức: không chỉ là hoài niệm mà còn là nỗi băn khoăn, trăn trở trước những đổi thay, trước khoảng cách giữa quá khứ và hiện tại.
Cách ghi chép cảm xúc vội mà sâu
Bài viết trên Báo Người Lao Động nhận định, trong khi nhiều nhà thơ chọn cách gói ghém ký ức qua thời gian, chắt lọc lâu dài trong tâm tưởng, Ngô Đức Hành lại thiên về việc ghi nhanh, viết vội, nắm lấy những khoảnh khắc xúc cảm bất chợt. Sự “vội” ở đây không phải hời hợt mà nhằm giữ trọn độ nóng hổi của cảm xúc trước khi đời sống thường nhật cuốn trôi. Những mảnh vụn ký ức, những chớp sáng của kỷ niệm nhờ vậy được lưu lại, kết lại thành tứ thơ.
Từ những mảnh ký ức như thế, những bài thơ trong “Gọi đồng” trở thành những nốt trầm, lắng lại trong lòng người đọc. Ngôn ngữ giản dị, hình ảnh thân thuộc kết hợp với cách diễn đạt gần với bút pháp hiện đại nhưng vẫn nằm trên nền của dòng thơ truyền thống, giúp tập thơ xây dựng được một không gian nghệ thuật riêng, nơi ký ức cá nhân có thể gợi mở ký ức chung của nhiều người lớn lên từ làng quê.
“Gọi đồng” – lời thì thầm với làng quê và tộc họ
“Gọi đồng” không chỉ được nhìn nhận như lời tâm sự của một người con xa quê gửi về làng cũ, mà còn như cuộc đối thoại âm thầm với tộc họ, với những thế hệ gắn bó với ruộng đồng, với văn chương dân dã. Tập thơ vì thế vừa mang tính riêng tư, vừa chạm đến chiều sâu cộng đồng, khi nói hộ nỗi lòng của nhiều người rời làng đi xa nhưng vẫn giữ cho mình một “tiếng gọi” quay về.
Sự dung dị trong ngôn từ, chất trữ tình hòa trong khung cảnh làng quê miền Trung và nỗi niềm của người làm báo – nhà thơ khiến “Gọi đồng” được xem là một cõi thơ riêng, nơi người đọc có thể “nhặt chút hương” của những ngày xưa cũ, của cánh đồng, con sông, mái nhà và tiếng gọi âm thầm mà bền bỉ của quê hương.

Thể loại sách yêu thích hé lộ gì về tính cách
“Hiệp sĩ Dế Mèn” – khi truyện thiếu nhi bắt tay với trí tuệ nhân tạo
“Nằm nghe gió thổi sau hè” cuốn sách như tấm vé khứ hồi trở về nhà cũ
“Nàng tiên cá cuối cùng” – tiếng vọng cảnh tỉnh từ lòng biển
“Nắng hanh”: mùa hè dịu vàng và những rung cảm đầu đời